Hiện thực hoá học thuyết Cư trần lạc đạo của Phật hoàng Trần Nhân Tông
Ban Biên Tập -
20/12/2025
"Dưới tác động của học thuyết Cư trần lạc đạo mỗi người dân là mỗi Phật tử tự hoàn thiện bản thân, đóng góp cho gia đình và xã hội, trên hết tùy theo năng lực, tùy duyên tùy thời mà thực thi nhiệm vụ công dân mà dân tộc, đất nước giao phó."
Hiện thực hoá học
thuyết Cư trần lạc đạo của Phật hoàng Trần Nhân Tông
Vua Trần Nhân
Tông được dân tộc ta tôn vinh, sử sách đánh giá là vị vua anh minh, vị anh hùng
dân tộc hai lần đánh tan quân Nguyên Mông, làm sống dậy hào khí Đông A đi vào lịch
sử hào hùng của dân tộc, đồng thời Ngài cũng là vị Thiền sư đắc đạo khai sáng
ra Thiền phái Trúc Lâm. Nói như vậy, để thấy trong vai trò là người đứng đầu quốc
gia, người lãnh đạo Phật giáo, vua Trần Nhân Tông đã hoàn thành sứ mệnh xây dựng
quốc gia Đại Việt không chỉ độc lập tự chủ trên biên cương lãnh thổ, mà còn độc
lập tự chủ trên mọi phương diện từ kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục và kể
cả tín ngưỡng tâm linh mà cả dân tộc giao phó.
Nhà vua - Phật
hoàng Trần Nhân Tông với học thuyết Cư trần lạc đạo
Thực tế, đất nước
ta không lớn so với các cường quốc trên thế giới. Song, trong suốt hành trình lịch
sử của dân tộc Việt Nam từ xưa đến nay, chưa có một lần nào nhân dân ta chịu
khuất phục, đầu hàng với bất kỳ kẻ thù nào đến gây hấn hay cố tình xâm lược nước
ta. Dân tộc ta bao giờ cũng bất khuất, vẫn thể hiện bản lĩnh tự chủ của một dân
tộc Việt hào hùng, không ngừng nỗ lực thăng tiến vươn lên là một sự thật hiển
nhiên. Chính tư tưởng yêu nước, tính tự cường dân tộc, niềm tự tin vào chính
mình và tự hào về dân tộc mình, tự thân biến thành cốt tủy và máu thịt của
chính mình để nhân dân ta từ trên chí dưới đoàn kết nhau, thương yêu nhau như
người trong một nhà không có một sức mạnh nào lay chuyển.
Niềm tự tin của
vua Trần Nhân Tông và của các Phật tử đời Trần lên tới mức, tự nhận thấy mình
là Phật, chứ Phật không phải ở đâu xa, do đó phải sống và hành động như Phật
không khác. Mỗi người là mỗi vị Phật, đồng nghĩa mỗi người lãnh đạo, mỗi người
dân trong một nước, tất cả con dân Việt đều có niềm tin như vậy và hành động
như vậy, khiến đất nước sẽ hóa thành cõi Phật ngay giữa đời, chứ không trông chờ
một cõi Phật ở nơi xa xôi phương Tây Cực lạc.
Chính đây hai cội
nguồn này đã tạo nên nguồn sức mạnh nội tại của dân tộc Đại Việt, cái gọi là
hào khí Đông A thời Trần. Mà một trong những nhân vật biểu tượng khởi xướng
tinh thần yêu nước nồng nàn, nối kết thực thi giáo lý Thiền môn, để hướng tâm
chúng sinh thành tâm Phật, không ai khác hơn phải kể đến nhà vua - Phật hoàng
Trần Nhân Tông với Học thuyết Cư trần lạc đạo. Có thể nói kể từ khi học thuyết
này được thiết lập, vận hành và thể nhập vào đời sống thực tiễn, nó đã trở
thành một chủ trương, đường lối, và mục tiêu tối hậu xuyên suốt cả thời đại Lý
- Trần mà ngày nay âm hưởng của nó vẫn còn in dấu ấn lớn trong tâm khảm của mọi
người dân Việt như để tiếp sức, tiếp tục cuộc hành trình xây dựng đất nước Việt
Nam sánh vai các cường quốc năm châu trong thời đại hội nhập toàn cầu.
Cơ sở lý luận
thành học thuyết Cư trần lạc đạo
Trần Nhân Tông
được sinh ra và kế vị trong bối cảnh nhân dân ta vừa hoàn thành công cuộc kháng
chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ nhất do vua Trần Thái Tông, vị vua đầu
tiên khai sáng ra triều nhà Trần, cũng là người đặt nền tảng cho Thiền phái
Trúc Lâm ra đời. Trong một bối cảnh như vậy, Trần Nhân Tông đã tiếp thu những
tinh hoa tư tưởng từ một nền Phật giáo chức năng để chuyển sang nền Phật giáo
thế sự, đáp ứng các nhu cầu lịch sử đặt ra mà các vua tiền hiền trước đó là Trần
Thái Tông, Trần Thánh Tông đã nỗ lực thực thi.
Nếu trước đây,
Trần Thái Tông đã chọn Kinh Kim Cương và Kim Cương tam muội rồi chú giải để làm
cơ sở lý luận biện tâm, thực thi đời sống hướng nội trước một bối cảnh lịch sử
cả dân tộc ra sức chấn hưng đất nước thì đến Trần Nhân Tông chủ trương bổ sung
thêm một số quan điểm được đúc kết từ các bản kinh Đại thừa Lăng Nghiêm, Bát
Nhã, Hoa Nghiêm làm cơ sở lý luận tiền đề hình thành học thuyết Cư trần lạc đạo
phục vụ cho đường lối hoạt động Thiền phái Trúc Lâm, góp phần bảo vệ quyền độc
lập tự chủ quốc gia và trên hết là xây dựng phát triển đất nước phồn vinh.
Trong đó nội dung kinh Hoa Nghiêm được Trần Nhân Tông được xem như là hạt nhân
làm nên học thuyết Cư trần lạc đạo.
Dưới tác động của
tư tưởng Kinh Hoa Nghiêm, học thuyết Cư trần lạc đạo trở thành hệ thống lý luận
phổ quát cho những người lãnh đạo quốc gia Đại Việt, từ đó về sau, với tầm nhìn
về dân tộc, đất nước, về xã hội cũng như con người suốt chiều dài lịch sử trong
mối tương quan tương duyên với đất nước, cùng thời đang hiện hữu. Cũng chính từ
cơ sở lý luận học thuyết này mà con người có thể lý giải và giải quyết tất cả
các phạm trù đối kháng mâu thuẫn trong tư tưởng nhân loại có – không, thị –
phi, lớn – nhỏ, sống – chết, tồn tại – phát triển, đối thoại – đối đầu. Trên hết,
khi học thuyết Cư trần lạc đạo này được vận hành và thể nhập vào đời sống thực
tiễn thì càng làm sáng tỏ trong nhận thức người dân Việt Nam, tạo thành một lối
sống mới trong đời sống sinh hoạt thường nhật.
Trong lịch sử
dân tộc, chưa có triều đại nào hùng mạnh lại thân dân, gần dân và lo cho dân
như triều đại nhà Trần, nhất là dưới triều đại vua Trần Nhân Tông trị vì. Cội rễ
của thành tựu này, nó kết tinh truyền thống yêu nước chính là yêu đạo và ngược
lại yêu đạo là yêu nước được lý giải qua sự vận hành học thuyết Cư trần lạc đạo
vào đời sống thực tiễn mà Trần Nhân Tông trong vai trò lãnh đạo tối cao của Quốc
gia, đồng thời cũng là giáo chủ khai sáng ra dòng thiền Trúc Lâm, mang bản sắc
Việt như là một thực thể duy nhất.
Vua Trần Nhân
Tông có viết Cư trần lạc đạo phú, Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca và nhiều tác
phẩm khác, trong đó giá trị lý luận Cư trần lạc đạo đã trở thành hệ tư tưởng
chính cho Thiền phái hoạt động trong một bối cảnh lịch sử nước ta luôn phải đối
diện với các cuộc chiến tranh vệ quốc. Bài kệ kết thúc bài phú Cư trần lạc đạo
thâu tóm toàn bộ hệ thống tư tưởng của Trần Nhân Tông:
“Cư trần lạc đạo
thả tùy duyên,
Cơ tắc xan hề
khốn tắc miên.
Gia trung hữu bảo
hưu tầm mịch,
Đối cảnh vô tâm
mạc vấn thiền.”
(Cư trần vui đạo
hãy tùy duyên,
Đói cứ ăn no, mệt
ngủ liền.
Báu sẵn trong
nhà thôi khỏi kiếm,
Vô tâm trước cảnh,
hỏi gì thiền.) 1.
Có thể xem bài
kệ này là tôn chỉ, mục đích tối thượng của thiền phái Trúc Lâm, cũng là Phật
giáo Đại Việt. Về phương diện đạo pháp là xây dựng đời sống Phật quốc trên đất
nước Đại Việt theo mô hình Đất vua – chùa làng – Phong cảnh Bụt. Về phương diện
dân tộc, đất nước xây dựng quốc gia Đại Việt hùng cường, từ đây trở về sau là độc
lập, tự chủ trên mọi phương diện từ kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng mà
ngày nay diễn đạt là độc lập, tự do, hạnh phúc.
Hiện thực hóa
thuyết Cư trần lạc đạo
Đây là mục đích
tối thượng đem đạo vào đời thiết thực nhất trong bối cảnh như lịch sử hào hùng
của thời đại Đông A nhà Trần.
Đối với đạo
pháp, Thiền phái Trúc Lâm ra đời trên cơ sở sáp nhập ba dòng thiền đang sinh hoạt
hiện hữu Tỳ ni đa lưu chi, Vô Ngôn Thông, và Thảo Đường là hệ quả tất yếu của Học
thuyết Cư trần lạc đạo. Phải nói rằng Trần Nhân Tông là người thấm nhuần tư tưởng
Phật giáo và có tầm nhìn cao rộng khi tự thân mình trải nghiệm hành trì đạo lý
thiền, để rồi chứng ngộ đạo thiền trong cuộc sống trần tục này. Mà trước đó,
ngay từ thời Phật giáo mới du nhập, dân tộc ta đã xác định về con đường và nhiệm
vụ Phật giáo: “Ở trong nhà thì hiếu thảo mẹ cha, ra ngoài xã hội thì giúp nước
hộ dân, khi ngồi một mình thì phải biết tu thân”2. Đến thời Trần, Trần Nhân
Tông xác định Phật giáo là cuộc sống, ngoài cuộc sống thì không có Phật giáo.
Cũng thế chân lý cũng không nằm Phật giáo mà được minh chứng từ trong thực tiễn
đời sống trần tục này như Trần Nhân Tông tuyên bố: “Trần tục mà nên, phúc ấy
càng yêu hết tấc; Sơn lâm cùng cốc, họa kia cả đồ công”3.
Chính học thuyết
tư tưởng Cư trần lạc đạo này làm cho lịch sử truyền thừa thiền phái Trúc Lâm có
những đại biểu kế thừa sau này. Bản thân Trần Nhân Tông sau khi xuất gia và hóa
đạo mà vẫn lo việc nước việc dân bằng sự kiện gả công chúa Huyền Trân và sáp nhập
hai châu Ô Mã và Việt Lý vào cương thổ Đại Việt. Chính sự khai sáng ra dòng thiền
Trúc Lâm và đi vào hoạt động, thiền phái đã đáp ứng nhu cầu lịch sử của chính
quyền Đại Việt là mở mang bờ cõi ở phương Nam, giải quyết về vấn an ninh quốc
phòng mà phong kiến phương Bắc thường gây hấn, đồng thời giải quyết vấn đề kinh
tế, gia tăng dân số ngày càng mạnh mẽ của quân dân Đại Việt. Chính tư tưởng Cư
trần lạc đạo này làm cho mọi thành phần trong xã hội, các cộng dồng dân tộc
khác nhau cùng chung sống trong lý tưởng mỗi người là một vị Phật khi tự hoàn
thiện bản thân và tích cực đóng góp cho xã hội khi điều kiện thành Phật ở này
là “Lòng lặng mà biết, đó là Phật thật” (lòng dân không còn tham đắm các dục,
trí tuệ khai mở thì thành Phật ngay cõi đời này) được Trần Nhân Tông phổ cập
trong dân chúng.
Trần Nhân Tông
trở thành vị Phật Đại Việt, Sơ Tổ thiền phái Trúc Lâm, minh chứng cho sự độc lập
tự chủ trên phương diện tín ngưỡng tâm linh của dân tộc Việt Nam. Có thể nói, lần
đầu tiên trong lịch sử Việt Nam chúng ta có một đạo Phật Việt Nam mang đặc
trưng riêng biệt, gọi là Phật giáo Nhất tông có sự thống nhất về mặt tổ chức
hành chính, về tôn chỉ, đường lối, phương pháp tu hành từ trung ương cho đến địa
phương với tên gọi Giáo hội Nhất tông. Với tầm nhìn của Trần Nhân Tông như vậy
đã mở ra cho lịch sử Phật giáo Việt Nam hôm nay, có một tổ chức Giáo hội Phật
giáo Việt Nam duy nhất đồng hành cùng với dân tộc trong sự nghiệp dựng giữ nước
và mở nước, hội nhập toàn cầu.
Điểm đáng nói
là với sự hình thành nền Phật giáo Nhất tông, trong cương vị đứng đầu Giáo hội,
Phật hoàng Trần Nhân Tông đã chủ trương thành lập Đại tạng kinh Việt Nam, làm nền
tảng cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam hôm nay thành Đại tạng kinh Việt Nam do cố
Hòa thượng Thích Minh Châu làm chủ tịch đầu tiên phiên dịch hệ thống kinh điển
ra Việt ngữ. Chính vua Trần Nhân Tông cũng góp phần chủ trương Việt hóa kinh điển
ngay từ thời Trần bằng cách sáng tác kinh điển bằng chữ Nôm như: Cư trần lạc đạo
phú, Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca, mở đầu cho nền văn học chữ Quốc âm Việt
Nam, và Phật giáo Việt Nam.
Nhìn chung, Phật
giáo Đại Việt đã giải quyết nhiều vấn đề lý luận cho một giai đoạn mới, thời kỳ
mới của một Phật giáo thế sự, hướng tâm xây dựng Phật quốc ở đời. Dưới tác động
của học thuyết Cư trần lạc đạo mỗi người dân là mỗi Phật tử tự hoàn thiện bản
thân, đóng góp cho gia đình và xã hội, trên hết tùy theo năng lực, tùy duyên
tùy thời mà thực thi nhiệm vụ công dân mà dân tộc, đất nước giao phó.
Đối với quốc
gia dân tộc, học thuyết Cư trần lạc đạo không chỉ tạo ra bản sắc Phật giáo Đại
Việt mà còn tác động mạnh mẽ vào đời sống chính trị văn hóa xã hội nước nhà. Việc
định hướng bảo vệ chủ quyền dân tộc, mở rộng biên cương, chấn hưng văn hóa Đại
Việt đều mang dấu ấn quan điểm Phật giáo. Sự thành công của nhà Trần là có các
vị vua lãnh đạo đất nước biết vận dụng tư tưởng Cư trần lạc đạo để huy động sức
mạnh đoàn kết toàn dân. Tiềm lực dân tộc trước hết nằm ở lòng yêu nước của toàn
dân để xây dựng Đại Việt thành một quốc gia hùng cường mà không có một thế lực
nào ngăn cản được.
Xuất phát từ khởi
điểm mỗi người đều có Phật tại tâm, bình đẳng giải thoát, có khả năng đóng góp
để bảo vệ sự tồn vong của đất nước cũng là bảo vệ đạo pháp trường tồn. Nhờ vậy
hội nghị Bình Than và Diên Hồng dẫn đến bảo vệ thành công quyền độc lập, tự chủ
của đất nước qua hai cuộc kháng vệ quốc chống Nguyên Mông thắng lợi, đúng như
tinh thần: “Xã tắc đôi phen chồn ngựa đá, Non sông nghìn thuở âu vàng”.
Quan điểm đoàn
kết nhân tâm chỉ thực hiện được khi mọi người dân cùng chung một quyền lợi và
nghĩa vụ với người lãnh đạo đất nước. Và Trần Hưng Đạo viết Hịch tướng sĩ để cụ
thể hóa vấn đề đó với toàn bộ tướng sĩ dưới trướng của mình. Còn Trần Nhân Tông
thì với học thuyết Cư trần lạc đạo, hướng đến việc xây dựng mẫu người Phật tử
nhằm bảo vệ độc lập và chấn hưng đất nước. Mỗi khi sự tồn tại quyền lợi của người
này là điều kiện nhân tố cho quyền lợi người khác thì tất cả đồng phát triển. Mọi
người dân hiểu yêu nước là yêu đạo, yêu gia đình là yêu cha mẹ – vợ chồng – con
cái, yêu mộ phần tổ tiên – ông bà, yêu hồn thiêng sông nước nuôi dưỡng con người.
Hơn nữa, chính
sách khoan dung, nhân thứ với những người làm phản, thậm chí tha thứ cho những
người lạc lối, gây tội ác sau chiến tranh mà Trần Nhân Tông đã xử lý cũng đủ
nói lên tầm nhìn của vua Trần Nhân Tông đối với việc quản dân, an dân và vì dân
trong khái niệm tất cả là con dân Việt, cùng chung ý niệm đồng bào, đồng chí.
Trong vai trò
là người lãnh đạo quốc gia, cũng là người đứng đầu tổ chức Phật giáo, Trần Nhân
Tông đã chủ trương phục hưng nền văn hóa Đại Việt và hướng đến xây dựng và đào
tạo mẫu người Đại Việt để phục vụ công cuộc tái thiết đất nước. Dưới tác động của
học thuyết Cư trần lạc đạo, chính tư tưởng tu hành và giác ngộ ngay giữa trần tục
đã hình thành nên mẫu người Phật tử biết đem đạo ứng dụng vào đời thật hữu ích.
Không chỉ một loạt Thiền sư xuất gia, mà cả tại gia của giai đoạn này đều tích
cực tham gia vào đời sống kinh tế, chính trị của đất nước. Họ có thể là những
nhà tư tưởng, tướng cầm quân, những nhà trí thức lớn, thầy thuốc tùy theo sự
phân công và khả năng của mình mà sẵn lòng cống hiến, tham gia không có một yêu
cầu đòi hỏi nào cả, sống đúng đạo lý như Trần Nhân Tông nói trong Cư trần lạc đạo:
“Sạch giới lòng, chùi giới tướng, nội ngoại nên Bồ tát trang nghiêm, Ngày thờ
chúa, thảo thờ cha, đi đỗ mới trượng phu trung hiếu, Tham thiền kén bạn, nát
thân mình mới khá hồi ân, Học đạo thờ thầy, dọt xương óc chưa thông của báo” 4.
Chủ trương lớn
thứ hai của Trần Nhân Tông về văn hóa giáo dục là sử dụng chữ Nôm trong hành
chánh và trong văn học, kể cả trong truyền bá đạo Phật. Điều đặc sắc, là vua đã
để lại nhiều tác phẩm, trong đó có bài phú Cư trần lạc đạo, một bài phú Nôm nói
về giáo lý đạo Phật. Trong bài, đơn cử có những câu rất Việt như: “Bụt ở trong
nhà, Chẳng phải tìm xa, Nhân khuấy bổn, nên ta tìm Bụt, Đến biết hay chỉn Bụt
là ta”. Các câu: “Tịnh độ là lòng trong sạch, chớ còn ngờ hỏi tới Tây phương.
Di Đà là tính lặng soi, mựa phải nhọc tìm về Cực lạc”. Điều đáng nói, là hai từ
rất Việt là lặng soi, trong khi các bản Việt dịch hiện nay lại thích dùng hai
chữ rất Hán là tịch chiếu. Hay là những từ Cầm giới hạnh. Nếu hiện nay, ta dùng
là chữ giữ giới hay trì giới, còn Trần Nhân Tông đã dùng từ rất Việt là cầm giới
hạnh. Trần Nhân Tông dùng từ nghiệp miệng cũng rất Việt, thay vì hiện nay chúng
ta ưa dùng từ khẩu nghiệp.
Xem ra, khi
sáng tác bài phú Cư trần lạc đạo, hay Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca, phải
chăng Trần Nhân Tông muốn chứng tỏ rằng: chữ Nôm của chúng ta dù trong hoàn cảnh,
môi trường sống nào, không chỉ có giá trị giao tiếp, chuyên chở đạo lý, mà còn
dùng để diễn đạt những chân lý triết học cao siêu nhà Phật.
Sau Trần Nhân
Tông, Huyền Quang, trong vai trò Tam Tổ Trúc Lâm cũng sáng tác bài Vịnh Vân Yên
tự phú ca ngợi cõi Phật là cõi vô tâm, Mạc Đĩnh Chi sáng tác bài phú Giáo tử
phú dạy con niệm Phật và về sau Thiền sư Việt Nam đã theo gương Phật hoàng mà
sáng tác hàng loạt tác phẩm Phật giáo bằng Quốc âm. Thiết nghĩ, vua Trần Nhân
Tông mong muốn trong tương lai phổ biến đạo lý Phật không phải bằng chữ Hán mà
bằng chữ Việt (Nôm), theo đúng lời xưa kia của Phật Thích Ca là mỗi dân tộc phải
truyền bá Phật giáo bằng ngôn ngữ của dân tộc mình. Trong ý nghĩa đó, tinh thần
Việt hóa Kinh Phật mà Giáo hội Phật giáo Việt Nam chủ trương từ lâu, sẽ tác động
mạnh vào sự nghiệp truyền bá đạo Phật ở Việt Nam, thời hội nhập với bản sắc thuần
Việt.
Hơn nữa, công
cuộc chấn hưng đất nước đòi hỏi việc tái thiết các công trình văn hóa do kẻ thù
tàn phá. Dưới tác động xây dựng mẫu người Phật tử lý tưởng của Thiền phái, mọi
người dân đã tích cực tái thiết: “Dựng cầu đò, giồi chiền tháp, ngoại trang
nghiêm sự tướng hãy tu” 5. Việc Trần Nhân Tông đem mười điều thiện dạy khắp đã
phản ánh chính sách dùng Chánh pháp để an dân mà trước đó hơn một nghìn năm đã
được ghi vào kinh Lục độ tập. Một bản kinh được Phật giáo nước ta vận dụng nhuần
nhuyễn phù hợp với đạo lý truyền thống. Nó được các nhà lãnh đạo quốc gia dùng
làm “pháp luật quốc gia” nhằm đem lại sự bình an cho xã hội. Kết quả, Tổ quốc Đại
Việt sau bao năm nỗ lực kiến thiết quốc gia là kiến lập cõi Phật ngay giữa cõi
đời, được mô tả qua bài Vịnh Vân Yên tự phú của Huyền Quang Tam Tổ: “Vào chưng
cõi Thánh thênh thênh, Thoát rẽ lòng phàm phây phấy, Bao nhiêu phong nguyệt, thề
thốt chẳng cùng, Hễ cảnh giang sơn, ai nhìn thấy đấy” 6.
Tóm lại, học
thuyết Cư trần lạc đạo đã góp phần giải quyết một loạt vấn đề đặt ra cho Phật
giáo Đại Việt, tất nhiên cũng đáp ứng các nhu cầu đòi hỏi của lịch sử dân tộc.
Sau thời Trần Nhân Tông, Phật giáo còn đóng góp cho quốc gia dân tộc với những
nhiệm vụ mới mà lịch sử giao phó.
Chú thích:
1. Viện Văn học,
Thơ văn Lý – Trần, tập 2, quyển thượng, Nxb. KHXH, HN, tr.510.
2. Lê Mạnh
thát, Nghiên cứu về Mâu Tử, tập 2, Tu thư Vạn Hạnh, Sài gòn, tr.511.
3. Viện Văn học,
Thơ văn Lý – Trần, tập 2, quyển thượng, Nxb. KHXH, HN, tr.506.
4. Viện Văn học,
Thơ văn Lý – Trần, tập 2, Nxb. KHXH, Hà Nội, tr.507.
5. Viện Văn học,
Thơ văn Lý – Trần, tập 2, Nxb KHXH, Hà Nội, 1998, tr.508.
6. Viện Văn học,
Thơ văn Lý – Trần, tập 2, Nxb KHXH, Hà Nội, 1998, tr.712.
Giáo lý Tứ y là một pháp thù thắng giúp cho người tu tập biết cách ứng dụng Phật pháp một cách thông minh và không sợ đi lệch hướng. Tất cả các pháp phương tiện nếu biết thực hành một cách linh hoạt và uyển chuyển theo từng căn cơ, hoàn cảnh, thì sẽ mang lại một sự lợi ích thiết thực nhất trên hành trình tu tập theo giáo pháp Như Lai.
"Dưới tác động của học thuyết Cư trần lạc đạo mỗi người dân là mỗi Phật tử tự hoàn thiện bản thân, đóng góp cho gia đình và xã hội, trên hết tùy theo năng lực, tùy duyên tùy thời mà thực thi nhiệm vụ công dân mà dân tộc, đất nước giao phó."
PGĐT - Theo thông lệ hàng năm tại chùa Tịnh Nghiêm (khu phố Mỹ An, phường Mỹ Phong, tỉnh Đồng Tháp); Sáng ngày 23/8/2025 (nhằm ngày 01/7 năm Ất Tỵ), Ni trưởng trụ trì Thích Nữ Tịnh Nghiêm cùng Ni chúng và Phật tử trang nghiêm tổ chức Pháp hội Vu lan, dâng Ca-sa nhân mùa Báo hiếu PL.2569.
PGTG - Phật giáo là một tôn giáo lớn, có sức ảnh hưởng quan trọng ở châu Á. Từ Ấn Độ, theo các con đường khác nhau, Phật giáo được truyền vào Đông Nam Á từ thế kỷ thứ III trước Công nguyên (TCN) và trở thành quốc giáo, gắn bó với đời sống chính trị - xã hội một số nước Đông Nam Á. Trong dòng chảy đó, vào thế kỷ thứ XIII - XIV, Phật giáo đồng thời xác lập vị trí quốc giáo tại hai quốc gia trung đại ở Đông Nam Á là Sukhothai (Thái Lan) và Đại Việt (Việt Nam). Tuy nhiên dưới những biến động lịch sử
PGTG – Ngày 20/01/2025 (nhằm ngày 21/12 năm Giáp Thìn), trước thềm Xuân Ất Tỵ, phái đoàn Ban Giám đốc Công an tỉnh Tiền Giang do ông Phan Văn Trảng - Phó Giám đốc Công an tỉnh làm Trưởng đoàn đã đến thăm và chúc Tết chư Tôn đức Ban Trị sự GHPGVN tỉnh, tại Văn phòng BTS - chùa Vĩnh Tràng, TP.Mỹ Tho.